Một số vướng mắc về thẩm quyền cải chính hộ tịch liên quan đến Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn

(01/08/2017)

Ngày 20/11/2014, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Hộ tịch và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016 (Luật Hộ tịch); sau hơn 01 năm triển khai thực hiện, Luật Hộ tịch đã từng bước khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong đời sống xã hội, giúp cho người dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trên cơ sở sự kiện hộ tịch và giúp cho cơ quan quản lý về hộ tịch kịp thời theo dõi thực trạng, biến động về hộ tịch để có các chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai Luật Hộ tịch vẫn còn một số vướng mắc cần được nghiên cứu, hướng dẫn và sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, thống nhất trong quá trình triển khai thực hiện. Trong phạm vi bài viết này, tôi xin đưa ra một số vướng mắc xung quanh thẩm quyền cải chính hộ tịch (CCHT) có liên quan đến Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (GCNĐKKH); cụ thể:

Theo điểm đ Khoản 1 Điều 3 Luật Hộ tịch, CCHT là một trong những nội dung đăng ký hộ tịch tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và thẩm quyền được xác định như sau: (1) UBND cấp xã nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân có thẩm quyền giải quyết việc CCHT cho người chưa đủ 14 tuổi (điểm b Khoản 1 Điều 7 và Điều 27 Luật Hộ tịch); (2) UBND cấp huyện nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân có thẩm quyền giải quyết việc CCHT cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước (điểm b Khoản 2 Điều 7 và Khoản 3 Điều 46 Luật Hộ tịch).
Căn cứ Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì độ tuổi để được đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của nam là từ đủ 20 tuổi trở lên, của nữ là từ đủ 18 tuổi trở lên. Đây là độ tuổi đã thành niên (lớn hơn 14 tuổi); do đó, khi có thay đổi, CCTH liên quan đến GCNĐKKH thì thẩm quyền giải quyết phải thuộc về UBND cấp huyện (điểm b Khoản 2 Điều 7 và Khoản 3 Điều 46 Luật Hộ tịch). Tuy nhiên, tại đoạn 2 Khoản 3 Điều 28 (Chương III: Phần đăng ký hộ tịch tại UBND cấp xã) Luật Hộ tịch quy định: “… Trường hợp thay đổi, CCHT liên quan đến Giấy khai sinh, GCNĐKKH thì công chức Tư pháp - Hộ tịch ghi nội dung thay đổi, CCHT vào Giấy khai sinh, GCNĐKKH…” đã tạo ra hai quan điểm khác nhau về thẩm quyền giải quyết việc CCHT có liên quan GCNĐKKH, gây khó khăn trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính về hộ tịch, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người dân:
Thứ nhất, thẩm quyền giải quyết việc CCHT có liên quan đến GCNĐKKH thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã bởi vì:
- Nội dung quy định trên nằm ở phần thẩm quyền giải quyết đăng ký hộ tịch của UBND cấp xã;
-  Chỉ ở cấp xã mới có chức danh công chức Tư pháp – Hộ tịch (cấp huyện không có) và trong quy định đã nêu rất cụ thể là “… công chức Tư pháp - Hộ tịch ghi nội dung thay đổi, CCHT vào Giấy khai sinh, GCNĐKKH…”.
Thứ hai, thẩm quyền giải quyết việc CCHT có liên quan đến GCNĐKKH thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện vì điều này phù hợp, đúng với quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 7 và Khoản 3 Điều 46 Luật Hộ tịch; việc “… công chức Tư pháp - Hộ tịch ghi nội dung thay đổi, CCHT vào Giấy khai sinh, GCNĐKKH…” là việc cung cấp thông tin để UBND cấp huyện xác nhận sự kiện hộ tịch – CCHT.
Để khắc phục vướng mắc trên, thiết nghĩ Bộ Tư pháp cần sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể về thẩm quyền giải quyết việc CCHT có liên quan đến GCNĐKKH để thực hiện thống nhất.
 

Phạm Thanh Quang – Sở Tư pháp Quảng Ngãi


Các tin đã đưa ngày:
                                  
                                                                                                                                                                                                                                                                                                                      
  • Lượt truy cập: