Thủ tục hành chính trong lĩnh vực quốc tịch - từ quy định của pháp luật đến thực tiễn thi hành

(28/04/2017)

Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 (sau đây gọi là Luật quốc tịch năm 2008) được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII thông qua tại kỳ họp thứ 4 ngày 13/11/2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009. Luật quốc tịch năm 2008 và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật này đã đánh dấu bước phát triển quan trọng trong lĩnh vực quốc tịch. Với việc quy định cụ thể về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết các việc về quốc tịch (như: xin nhập/xin trở lại/ xin thôi quốc tịch Việt Nam, xin xác nhận có quốc tịch Việt Nam...), bước đầu đã bảo đảm sự công khai, minh bạch các thủ tục hành chính, từ đó tạo thuận lợi cho các cá nhân khi có yêu cầu giải quyết các việc về quốc tịch. Đặc biệt, quy định tại Điều 22 Luật quốc tịch năm 2008 đã tạo điều kiện dễ dàng cho việc giải quyết nhập quốc tịch đối với một số lượng lớn người không quốc tịch cư trú trên lãnh thổ Việt Nam từ hàng chục năm qua . Qua đó, đã góp phần hoàn thiện pháp luật về quốc tịch Việt Nam, cơ bản đã đáp ứng yêu cầu hội nhập, toàn cầu hóa trong tình hình mới.

Tuy nhiên, trong bối cảnh trong nước và quốc tế đang có nhiều thay đổi, tình hình di cư của một bộ phận người dân từ nước này sang nước khác, tình hình người di cư tự do (từ Việt Nam sang các nước láng giềng và ngược lại)... thì nhu cầu xin nhập/xin trở lại/xin thôi quốc tịch Việt Nam, xin xác nhận có quốc tịch Việt Nam, đặc biệt là xin nhập quốc tịch Việt Nam của người không quốc tịch (là những người di cư tự do từ các nước láng giềng có chung đường biên giới với Việt Nam, không có giấy tờ chứng minh về quốc tịch mà không đủ điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 22 Luật quốc tịch năm 2008), ngày càng phát sinh đa dạng, phức tạp hơn. Chính vì vậy, việc thực hiện các thủ tục hành chính khi giải quyết các việc về quốc tịch theo quy định của Luật Quốc tịch năm 2008 và các văn bản quy định chi tiết thi hành trên thực tế đã bộc lộ một số vướng mắc, bất cập. Cụ thể là:
          - Thứ nhất, đối với thủ tục xin nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam
+ Về việc xin nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam, đồng thời xin giữ quốc tịch nước ngoài
 Khoản 3 Điều 19 Luật quốc tịch năm 2008 quy định: Người nhập quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người quy định tại khoản 2 Điều này gồm: a) Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam; b) Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; c) Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép và khoản 5 Điều 23 Luật quốc tịch năm 2008 quy định: Người được trở lại quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người sau đây: a) Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam; b) Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; c) Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép. Nhưng, cả Luật quốc tịch năm 2008 và các văn bản quy định chi tiết thi hành không có điều nào quy định rõ “thế nào là trường hợp đặc biệt”.
Bên cạnh đó, mẫu Đơn xin nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam được ban hành kèm theo Thông tư số 08/2010/TT-BTP có in sẵn nội dung: Tôi xin đề nghị Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam xem xét, cho phép được nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam mà vẫn giữ quốc tịch hiện nay. Tôi xin cam kết việc giữ quốc tịch hiện nay không làm cản trở đến việc hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước CHXHCN Việt Nam - đây là nội dung lẽ ra chỉ dành cho số ít trường hợp đặc biệt, nhưng do in sẵn trên mẫu Đơn nên vô tình trở thành sự “gợi ý” cho số đông.
Chính vì những quy định trên của Luật quốc tịch năm 2008 và nội dung mang tính gợi mở của mẫu Đơn đã dẫn đến sự “ngộ nhận” của những người có nguyện vọng xin nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam trong việc họ có thể được giữ quốc tịch nước ngoài, nếu thể hiện nguyện vọng. Thực tế tiếp nhận hồ sơ xin nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam cho thấy, tất cả những người đáp ứng được điều kiện tại khoản 2 Điều 19 và khoản 5 Điều 23 Luật quốc tịch năm 2008, đặc biệt là điều kiện là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam đều bỏ qua việc “tích” trong ô cam kết làm thủ tục thôi quốc tịch hiện có để điền thông tin trong ô xin đề nghị Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam xem xét, cho phép được nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam mà vẫn giữ quốc tịch hiện nay...  trong mẫu Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam - và các lý do để xin giữ quốc tịch nước ngoài hầu hết là do không muốn thôi quốc tịch nước ngoài chứ không chứng minh được mình thuộc trường hợp đặc biệt để có thể xin Chủ tịch nước xem xét cho giữ quốc tịch nước ngoài khi được nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam.
+ Về những người có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Quy định tại khoản 2 Điều 19 và khoản 5 Điều 23 Luật quốc tịch năm 2008 có đề cập đến đối tượng người có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - và theo khoản 2 Điều 6 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP thì: Người mà việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là người có tài năng trong các lĩnh vực khoa học, kinh tế, văn hóa, xã hội, nghệ thuật, thể thao, được cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng nhận và cơ quan quản lý nhà nước cấp bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận việc nhập quốc tịch của họ sẽ đóng góp cho sự phát triển trong các lĩnh vực nói trên của Việt Nam.
Quy định như vậy là chung chung và quá rộng, trong khi đó lại không có quy định rõ về thời gian, mức độ đóng góp, nên trong một số trường hợp đã “dễ dãi” trong việc xác nhận về tài năng.
+ Về giấy tờ chứng minh việc thôi quốc tịch nước ngoài khi nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam
Khoản 3 Điều 19 Luật quốc tịch năm 2008 quy định: Người được trở lại quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài khoản, trừ... Khoản 5 Điều 23 Luật quốc tịch năm 2008 quy định: Người nhập quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ... Theo đó, khoản 3 Điều 25 và khoản 3 Điều 25 Luật quốc tịch năm 2008 quy định: ...Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ, nếu xét thấy người xin trở lại/xin nhập quốc tịch Việt Nam có đủ điều kiện được trở lại quốc tịch Việt Nam thì gửi thông báo bằng văn bản cho người đó để làm thủ tục xin thôi quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp người xin trở lại/xin nhập quốc tịch Việt Nam xin giữ quốc tịch nước ngoài hoặc là người không quốc tịch...  
Thực tế giải quyết hồ sơ xin trở lại/xin nhập quốc tịch Việt Nam cho thấy, do tùy thuộc vào pháp luật về quốc tịch của từng nước mà họ là công dân nên giấy tờ chứng minh thôi quốc tịch nước ngoài rất đa dạng (có nước cấp giấy xác nhận về việc công dân đã nộp đơn xin từ bỏ quốc tịch, có nước yêu cầu công dân phải làm thủ tục thôi quốc tịch và khi đó, cơ quan có thẩm quyền sẽ cấp văn bản chấp thuận cho người đó thôi quốc tịch...). Bên cạnh đó, với những nước mà pháp luật quy định đương nhiên mất quốc tịch nước đó khi có quốc tịch nước ngoài (như: Đức, Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ...) thì thông lệ từ trước đến nay, Bộ Tư pháp tạm thời yêu cầu đương sự phải có cam kết việc từ bỏ quốc tịch nước ngoài khi nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam - việc cam kết phải bằng văn bản và phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của nước đó về nội dung cam kết của đương sự. Tuy nhiên, đây chỉ là sự vận dụng linh hoạt trong quá trình tiếp nhận, giải quyết hồ sơ để bảo đảm chặt chẽ trong khi Luật quốc tịch năm 2008 chưa có quy định (để có cơ sở pháp lý để áp dụng khi giải quyết thì đòi hỏi thủ tục này phải có quy định cụ thể hơn, trong đó cũng cần đặt ra yêu cầu đương sự phải nộp văn bản xác nhận của cơ quan có thẩm quyền quản lý về quốc tịch của nước ngoài về việc đã tiếp nhận thông báo của người đó về việc đã được nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam để bảo đảm nguyên tắc một quốc tịch - nguyên tắc chủ đạo của Luật quốc tịch năm 2008).
+ Về Phiếu lý lịch tư pháp
Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 20 và điểm d khoản 1 Điều 24 Luật quốc tịch năm 2008  thì một trong những giấy tờ phải có trong Hồ sơ xin nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam là: Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp đối với thời gian người xin nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam cư trú ở Việt Nam, Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp đối với thời gian người xin nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam cư trú ở nước ngoài (không quy định về trường hợp ngoại lệ). Yêu cầu này là cần thiết với số đông, tuy nhiên, đối với trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã thôi quốc tịch Việt Nam hồi hương về nước, xin trở lại quốc tịch Việt Nam, hay người di cư tự do từ các nước có chung đường biên giới với Việt Nam, đã cư trú ổn định tại Việt Nam đã được cơ quan Công an cấp Thẻ thường trú, xin nhập quốc tịch Việt Nam, nếu yêu cầu đương sự quay lại nước ngoài xin cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì gây tốn kém, khó khăn, thậm chí không khả thi. Tương tự như vậy, khó khăn cũng sẽ gặp phải đối với những người đã ra nước ngoài định cư thời gian dài, đã thôi quốc tịch Việt Nam, nay xin trở lại quốc tịch Việt Nam phải có Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp đối với thời gian cư trú ở Việt Nam và thời gian cư trú ở Việt Nam có được hiểu là phải bao gồm cả thời gian đã cư trú ở Việt Nam trước khi thôi quốc tịch hay chỉ là sau khi đã thôi quốc tịch cũng là một câu hỏi còn bỏ ngỏ. Trong khi đó, thủ tục xin thôi quốc tịch Việt Nam được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 28 Luật quốc tịch năm 2008 về yêu cầu Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp chỉ đặt ra đối với trường hợp người xin thôi quốc tịch đang thường trú ở trong  nước, bởi có quy định loại trừ tại khoản 2 Điều 28 Luật quốc tịch năm 2008: trường hợp công dân Việt Nam không thường trú ở trong nước thì không phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp này (quy định này là hợp lý).
+ Về Thẻ thường trú trong hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam
Theo quy định tại Điều 39 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam thì Người không quốc tịch chỉ được xét cho thường trú khi đã tạm trú liên tục tại Việt Nam từ năm 2000 trở về trước và khoản 1 Điều 42 của Luật này quy định thành phần hồ sơ giải quyết cho thường trú đối với người không quốc tịch bao gồm: (1) Đơn xin thường trú, (2) Giấy tờ chứng minh đã tạm trú liên tục tại Việt Nam từ trước năm 2000, (3) Giấy tờ chứng minh có chỗ ở hợp pháp và có thu nhập ổn định bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam.
Trong khi đó, khoản 2 Điều 5 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP quy định: Người xin nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam phải là người đang thường trú tại Việt Nam và được cơ quan công an có thẩm quyền của Việt Nam cấp thẻ thường trú.        
Như vậy, ngoài những người không quốc tịch đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ 20 năm trở lên tính đến ngày Luật quốc tịch năm 2008 có hiệu lực (tức từ ngày 01/7/1989 trở về trước) đã được nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 22 Luật quốc tịch năn 2008 thì trong số còn lại, sẽ có rất ít người đủ điều kiện để được nhập quốc tịch Việt Nam bởi sự ràng buộc với yêu cầu phải được cấp Thẻ thường trú (vì đa số người không quốc tịch không có giấy tờ chứng minh có chỗ ở hợp pháp và có thu nhập ổn định bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam, điều đó đồng nghĩa với việc họ không đủ điều kiện để được cấp Thẻ thường trú).
- Thứ hai, đối với thủ tục xin thôi quốc tịch Việt Nam
+ Về quy định đăng thông báo
Khoản 2 Điều 29 Luật Quốc tịch năm 2008 quy định: Trường hợp người xin thôi quốc tịch Việt Nam cư trú ở trong nước thì trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp có trách nhiệm đăng thông báo về việc xin thôi quốc tịch Việt Nam trên một tờ báo viết hoặc báo điện tử ở địa phương trong ba số liên tiếp và gửi đăng trên Trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp... Thông báo trên Trang thông tin điện tử phải được lưu giữ trên đó trong thời gian ít nhất là 30 ngày, kể từ ngày đăng thông báo
Điều 14 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thông báo về trường hợp chưa được thôi, không được thôi quốc tịch Việt Nam: Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày Sở Tư pháp đăng tải thông tin về người xin thôi quốc tịch Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Luật Quốc tịch Việt Nam, cơ quan Công an, Cơ quan Thi hành án dân sự, cơ quan thuế hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, nếu phát hiện thấy người xin thôi quốc tịch Việt Nam thuộc trường hợp chưa được thôi hoặc không được thôi quốc tịch Việt Nam theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 27 Luật Quốc tịch Việt Nam, thì phải kịp thời thông báo cho Sở Tư pháp nơi đã đăng tải thông tin đó.
Như vậy, có thể thấy, quy định về đăng thông báo là cần thiết, bảo đảm hỗ trợ trong việc phát hiện người xin thôi quốc tịch Việt Nam thuộc trường hợp chưa được thôi hoặc không được thôi quốc tịch Việt Nam theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 27 Luật Quốc tịch Việt Nam thì Sở Tư pháp không tiếp nhận hồ sơ. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, khi thực hiện đăng thông báo thì số kinh phí trả cho việc đăng thông báo (đăng báo) đã vượt quá số lệ phí xin thôi quốc tịch Việt Nam, đây là một khó khăn rất lớn đối với Sở Tư pháp trong việc cân đối ngân sách để chi cho hoạt động này.
+ Về thẩm quyền thụ lý hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam
Khoản 1 Điều 29 Luật Quốc tịch năm 2008 quy định: Người xin thôi quốc tịch Việt Nam nếu cư trú ở trong nước thì nộp hồ sơ cho Sở Tư pháp nơi cư trú, nếu cư trú ở nước ngoài thì nộp hồ sơ cho Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại.
Tuy nhiên, do Luật Quốc tịch năm 2008 và các văn bản quy định chi tiết thi hành không có quy định rõ hơn về “nơi cư trú” để làm căn cứ phân định thẩm quyền thụ lý hồ sơ nên đã dẫn đến tình trạng một số địa phương chỉ xác định nơi cư trú theo một cách hiểu đơn giản “thường trú hoặc tạm trú” để nhận hồ sơ mà không xem xét đầy đủ yếu tố thường xuyên sinh sống theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Cư trú. Đó là trường hợp đương sự chỉ về nước thăm thân, du lịch... có đăng ký lưu trú, hay trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa bị xóa tên trong sổ hộ khẩu gia đình, đã đến Sở Tư pháp nộp hồ sơ và đã được tiếp nhận (nộp hồ sơ trong nước thì quy trình giải quyết đơn giản hơn, lệ phí 2.500.000đ/trường hợp - thấp hơn so với lệ phí xin thôi quốc tịch Việt Nam ở nước ngoài là 200USD/trường hợp). Tình trạng này cũng xảy ra đối với trường hợp xin trở lại quốc tịch Việt Nam và xin xác nhận có quốc tịch Việt Nam.
+ Về những trường hợp được miễn thủ tục xác minh về nhân thân
Theo quy định tại khoản 3 Điều 30 Luật Quốc tịch năm 2008 thì Hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam của những người thuộc một trong các trường hợp sau đây không phải qua thủ tục xác minh về nhân thân: (1) Người dưới 14 tuổi; (2) Người sinh ra và định cư ở nước ngoài; (3) Người đã định cư ở nước ngoài từ 10 năm trở lên. Như vậy, với những trường hợp người dưới 14 tuổi hay người sinh ra và định cư ở nước ngoài sẽ dễ dàng xác định được, nhưng với người đã định cư ở nước ngoài từ 10 năm trở lên thì cần phải có quy định chi tiết hơn. Thực tế hiện nay, đối với những trường hợp ra nước ngoài định cư nhưng không ở một nước mà trước đó đã một nước khác (ví dụ định cư ở Séc 7 năm, tiếp đó sang Đức định cư và thời điểm làm hồ sơ đã định cư ở Đức đã được 5 năm, như vậy, tổng thời gian cư trú ở 02 nước cộng lại mới đủ trên 10 năm) thì có thuộc đối tượng định cư ở nước ngoài từ 10 năm trở lên hay không là đòi hỏi phải có sự “vận dụng” của cơ quan tiếp nhận hồ sơ.  
Thứ ba, đối với quy định về thỏa thuận của cha mẹ cho con nhập/trở lại/thôi quốc tịch Việt Nam trong thủ tục xin nhập/trở lại/thôi quốc tịch Việt Nam
Khoản 2 Điều 35 Luật quốc tịch năm 2008 quy định: Khi chỉ cha hoặc mẹ được nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam thì con chưa thành niên sinh sống cùng với người đó cũng có quốc tịch Việt Nam hoặc mất quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ...
Quy định tại khoản 2 Điều này được hiểu, trong mọi trường hợp, khi cha hoặc mẹ xin nhập/trở lại/thôi quốc Việt Nam cho con chưa thành niên thì phải có văn bản thỏa thuận của người kia (tức là phải thể hiện sự đồng ý của cả hai người) về việc nhập/trở lại/thôi quốc của con (không quy định trường hợp ngoại lệ). Tuy nhiên, thực tế cho thấy, quy định này chỉ có thể thực hiện được khi cha mẹ đang trong thời kỳ hôn nhân, hoặc không còn trong thời kỳ hôn nhân nhưng vẫn còn liên hệ với nhau; trường hợp cha mẹ đã ly hôn (thậm chí mới ly thân nhưng không còn chung sống), không liên hệ với nhau, không biết nơi ở của nhau... thì việc yêu cầu lấy ý kiến của cả hai người là cha mẹ của trẻ em trong nhiều trường hợp là không thực hiện được (quy định này cho thấy pháp luật mới ưu tiên hướng đến bảo vệ quyền của cha mẹ đối với con, mà chưa chú ý đến quyền lợi tốt nhất của đứa trẻ, bởi khi không có đủ ý kiến của cả cha và mẹ thì việc xin nhập/trở lại/thôi quốc Việt Nam của trẻ em là không đủ thủ tục và khi không đủ thủ tục thì không được thụ lý hồ sơ để giải quyết, hệ lụy của nó là quyền lợi của trẻ em sẽ không được bảo đảm, đặc biệt đối với những trẻ em đã ra nước ngoài sinh sống cùng cha hoặc mẹ khi không được thôi quốc tịch Việt Nam thì cũng không được nhập quốc tịch nước ngoài).
- Thứ tư, về việc hủy bỏ quyết định cho nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam
Luật quốc tịch năm 2008 có 01 mục quy định về việc hủy bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam (Mục 4) và Nghị định số 78/2009/NĐ-CP có 01 điều quy định về Hồ sơ kiến nghị hủy bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam (Điều 17). Và, theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật quốc tịch năm 2008 thì: Người đã nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 19 của Luật này, dù cư trú ở trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà cố ý khai báo không đúng sự thật hoặc giả mạo giấy tờ khi xin nhập quốc tịch Việt Nam thì Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam có thể bị hủy bỏ, nếu được cấp chưa quá 5 năm.
Do Luật chỉ quy định việc hủy bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam khi đương sự cố ý khai báo không đúng sự thật hoặc giả mạo giấy tờ khi xin nhập quốc tịch Việt Nam nên trên thực tế, với những lý do khác thì không có cơ sở pháp lý để áp dụng (Ví dụ: trường hợp người đã nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam không thuộc trường hợp đặc biệt để được Chủ tịch nước cho phép giữ quốc tịch nước ngoài mà cố tình không hoàn tất thủ tục thôi quốc tịch nước ngoài thì cũng không có căn cứ để hủy bỏ quyết định cho nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam).
- Thứ năm, về việc cấp Giấy xác có quốc tịch Việt Nam
Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 05/2013/TT-TTLT-BTP-BNG-BCA thì ngoài những giấy tờ có giá trị chứng minh người có quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 11 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, còn mở rộng thêm giấy tờ tương tự do chính quyền cũ trước đây cấp, kể cả giấy khai sinh trong đó không có mục quốc tịch hoặc mục quốc tịch bỏ trống nếu trên đó ghi họ tên Việt Nam (họ tên người yêu cầu, họ tên cha, mẹ); bên cạnh đó, Thông tư này còn quy định trong trường hợp không có “rất nhiều” những giấy tờ chứng minh quốc tịch đã nêu trên thì có thể còn được dùng các giấy tờ sau: (1) Bản sao các giấy tờ về nhân thân, hộ tịch, quốc tịch của ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em ruột, con; (2) Bản sao giấy tờ có nội dung liên quan đến quốc tịch của đương sự do chế độ cũ cấp trước ngày 30 tháng 4 năm 1975; (3) Bản sao giấy tờ trên đó có ghi quốc tịch Việt Nam hoặc quốc tịch gốc Việt Nam do các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp để phục vụ việc xác minh về quốc tịch của người đó.
Như vậy, có thể thấy những giấy tờ để chứng minh có quốc tịch Việt Nam và những giấy tờ dùng để phục vụ việc xác minh về quốc tịch Việt Nam quy định tại Thông tư này là quá rộng. Việc quy định về Giấy khai sinh trong đó không có mục quốc tịch hoặc mục quốc tịch bỏ trống nếu trên đó ghi họ tên Việt Nam cũng là một loại giấy tờ để chứng minh có quốc tịch Việt Nam mà không kèm yêu cầu phải xác minh là quá đơn giản (trong khi chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào giải thích thể nào là “họ tên Việt Nam”[1], và trên thực tế nhiều trường hợp chỉ là những họ tên được phiên âm sang tiếng Việt...). Bên cạnh đó, Luật quốc tịch cũng không có quy định giấy tờ chứng minh có quốc tịch Việt Nam phải là những giấy tờ được cấp hợp lệ, vì vậy trên thực tế với những giấy tờ được cấp “không hợp lệ” có được coi là giấy tờ chứng minh có quốc tịch Việt Nam hay không thì hiện vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận, trong đó không ít người lầm tưởng rằng, khi đã có các giấy tờ ấy (ví dụ: Giấy Chứng minh nhân dân) thì họ là công dân Việt Nam. Chính vì quy định quá thông thoáng của Thông tư liên tịch số 05/2013/TTLT-BTP-BNG-BCA về thủ tục cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam nên thực tế đã bị lợi dụng (có trường hợp đã làm theo thủ tục này để bỏ qua thủ tục nhập quốc tịch Việt Nam[2]).
                                                             *
                                                           *   *
Trên đây là sơ bộ nhận diện một số vướng mắc, bất cập trong thực hiện các thủ tục hành chính theo quy định của Luật Quốc tịch năm 2008 và các văn bản quy định chi tiết thi hành khi giải quyết các việc về quốc tịch. Để có thể đánh giá một cách tổng thể những vướng mắc, tìm được nguyên nhân dẫn đến những vướng mắc từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định về thủ tục hành chính trong lĩnh vực quốc tịch (bảo đảm đơn giản, song cũng đòi hỏi chặt chẽ, đặc biệt là việc bảo đảm tôn trọng nguyên tắc một quốc tịch - nguyên tắc chủ đạo của Luật quốc tịch năm 2008) thì cần tiến hành tổng kết, đánh giá một cách bài bản về công tác này không chỉ ở trong nước mà cần có sự tham gia của tất cả các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài./.
 
[1] Cho đến thời điểm hiện nay, mới chỉ có Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định: Tên của công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ...(khoản 2 Điều 26); trong khi đó chưa có văn bản nào quy định thể nào là “tiếng Việt”.
[2] Qua thực hiện tra cứu quốc tịch, Bộ Tư pháp đã phát hiện có trường hợp sau khi bị trả hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam (không giải quyết vì không đủ điều kiện), đương sự đã chuyển sang làm thủ tục xin cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam.

Hoàng Lan


Các tin đã đưa ngày:
                                  
                                                                                                                                                                                                                                                                                                                      
  • Lượt truy cập: