Những quy định về nguyên tắc quốc tịch trong pháp luật quốc tịch của Việt Nam

(09/06/2017)

Quốc tịch gắn liền với mỗi con người từ khi sinh ra đến khi chết và là tiền đề để họ được hưởng các quyền công dân và thực hiện nghĩa vụ công dân đối với nhà nước mà mình mang quốc tịch. Chính vì vậy, ngay từ khi ra đời Nhà nước Việt Nam đã coi trọng việc soạn thảo, ban hành các văn bản pháp luật về quốc tịch và tương ứng với từng thời kỳ, văn bản pháp luật về quốc tịch cũng đã được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế.

Theo đó, quy định về nguyên tắc quốc tịch cũng có sự thay đổi cùng với các văn bản này, cụ thể là:
1. Nguyên tắc quốc tịch trong quy định của các Sắc lệnh về quốc tịch
- Sắc lệnh số 53/SL ngày 20 tháng 10 năm 1945 quy định quốc tịch Việt Nam
Sau Cách mạng tháng Tám thành công với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 53/SL ngày 20 tháng 10 năm 1945 quy định quốc tịch Việt Nam. Sắc lệnh số 53/SL không có một điều khoản nào quy định về nguyên tắc quốc tịch, nhưng tại những điều khoản cụ thể, có thể thấy nguyên tắc một quốc tịch đã bắt đầu được thể hiện: Kể từ ngày ban hành sắc lệnh này, những người Việt Nam đã vào dân Pháp, sẽ coi là công dân Việt Nam. Những người ấy phải đến khai bỏ quốc tịch Pháp ở phòng Hộ tịch Toà Thị chính... (Điều thứ 4) hay quy định: Những công dân Việt Nam khi nhập một quốc tịch ngoại quốc sẽ mất quốc tịch Việt Nam (Điều thứ 7).
Bên cạnh đó, Sắc lệnh số 53/SL còn có những điều khoản quy định về quốc tịch của đàn bà: Đàn bà ngoại quốc lấy chồng Việt Nam, muốn trở nên công dân Việt Nam thì lúc làm giá thú phải khai ý muốn như thế... (Điều thứ 5) và Đàn bà Việt Nam lấy chồng ngoại quốc thì theo quốc tịch của chồng, trừ khi lúc khai giá thú, người đàn bà ấy xin giữ quốc tịch Việt Nam... (Điều thứ 6). Tuy nhiên, Sắc lệnh này không có quy định rõ khi Đàn bà ngoại quốc lấy chồng Việt Nam đã khai nhận quốc tịch Việt Nam thì có phải từ bỏ quốc tịch nước ngoài không cho đến khi có 01 điều được bổ sung tại Sắc lệnh số 51/SL.
- Sắc lệnh số 73/SL ngày 7/12/1945 quy định việc nhập quốc tịch Việt Nam
Sắc lệnh số 73/SL quy định người ngoại quốc muốn nhập quốc tịch Việt Nam cũng chỉ có quy định về một số điều kiện như: (1) Đủ 18 tuổi, (2) Đã ở 10 năm trên đất nước Việt Nam, (3) Có trú quán nhất định trong nước Việt Nam, (4) Biết tiếng nói Việt Nam,  (5) Có hạnh kiểm tốt, (6) Nếu có vợ hay chồng là người ngoại quốc, thì phải được người vợ hay chồng thoả thuận cho nhập quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, Sắc lệnh này không có quy định khi nhập quốc tịch Việt Nam thì có phải thôi quốc tịch nước ngoài hay không.
- Sắc lệnh số 51/SL ngày 14/12/1959 bãi bỏ Điều 5, 6 Sắc lệnh số 53/SL
Quy định liên quan đến quốc tịch của Đàn bà ngoại quốc lấy chồng Việt Nam và quốc tịch của Đàn bà Việt Nam lấy chồng ngoại quốc theo Điều 5 và Điều 6 Sắc lệnh số 53/SL đã bị bãi bỏ bởi Sắc lệnh số 51/SL. Ngoài ra, Sắc lệnh này bổ sung 01 điều quy định về: Những phụ nữ Việt Nam lấy chồng có quốc tịch  nước ngoài trước ngày ban hành Sắc lệnh này vẫn giữ quốc tịch Việt Nam. Người nào muốn theo quốc tịch của người chồng thì trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày ban hành Sắc lệnh này phải xin bỏ quốc tịch Việt Nam và phải được Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà cho phép (Điều 2). Cụm từ “phụ nữ Việt Nam” ở Sắc lệnh này đã được sử dụng thay cho cụm từ “đàn bà Việt Nam” tại Sắc lệnh số 53/SL và việc bổ sung nội dung quy định tại Điều 2 Sắc lệnh chính là hàm ý khẳng định nguyên tắc một quốc tịch.
          2. Nguyên tắc quốc tịch trong quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam
- Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1988
Tại kỳ họp thứ 7, phiên họp ngày 18/12/1980 Quốc hội khoá VI nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chính thức thông qua bản Hiến pháp năm 1980. Điều 53 Hiến pháp năm 1980 quy định: “Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam theo luật định”. Có thể nói, đây là lần đầu tiên, vấn đề quốc tịch của công dân Việt Nam được quy định trong Hiến pháp - văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất. Quy định này của Hiến pháp đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự ra đời của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1988.
Tại kỳ họp thứ 3, ngày 28/6/1988 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII đã thông qua Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1988[1], có hiệu lực thi hành từ ngày 15/7/1988. Đây là đạo luật đầu tiên của nhà nước ta quy định khá đầy đủ các vấn đề về quốc tịch Việt Nam, trong đó, nguyên tắc một quốc tịch triệt để đã được quy định rõ tại Điều 3 của Luật này:
“Điều 3. Công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch Việt Nam
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam”.
Tuy nhiên, xuyên suốt các quy định của Luật này không có quy định nào khác để bảo đảm nguyên tắc một quốc tịch triệt để, như không có quy định phải thôi quốc tịch hiện có khi vào hoặc trở lại quốc tịch Việt Nam, kể cả quy định về hồ sơ xin vào, xin trở lại quốc tịch Việt Nam tại Nghị định số 37/HĐBT ngày 05/2/1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam và Nghị định số 06/1998/NĐ-CP ngày 14/1/1998 sửa đổi một số điều của Nghị định số 37/HĐBT cũng không đặt ra yêu cầu phải có giấy tờ chứng minh việc thôi quốc tịch nước ngoài.
Như vậy, có thể thấy, mặc dù Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1988 đã đưa ra nguyên tắc một quốc tịch triệt để, nhưng lại chưa quy định cơ chế đảm bảo thực hiện nguyên tắc này. Cũng có ý kiến cho rằng, Luật đã quy định nguyên tắc một quốc tịch triệt để thì cần hiểu, với những trường hợp đã vào hoặc trở lại quốc tịch Việt Nam thì đương nhiên mất quốc tịch nước ngoài. Mặc dù vậy, đa số ý kiến cho rằng, để bảo đảm chặt chẽ thì việc “đương nhiên” cũng cần phải quy định trong một điều luật cụ thể. Việc quy định không rõ ràng và cách hiểu không thống nhất về vấn đề này đã gây khó khăn trong thực tế thi hành và có thể để lại hậu quả pháp lý phức tạp.
- Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998
Tại kỳ họp thứ 3 ngày 20/5/1998, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X đã thông qua Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/1/1999 và thay thế Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1988.
Nguyên tắc một quốc tịch vẫn tiếp tục được khẳng định và quy định tại Điều 3 của Luật này, nhưng đã có sự “mềm hóa” so với Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1988 bằng việc sửa tên Điều từ Công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch Việt Nam” bằngNguyên tắc một quốc tịch”  và bỏ chữ “chỉ” trong nội dung của Điều:
“Điều 3. Nguyên tắc một quốc tịch
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam”
Và để bảo đảm nguyên tắc một quốc tịch, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 quy định: Công dân nước ngoài được nhập quốc tịch Việt Nam thì không còn giữ quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp đặc biệt do Chủ tịch nước quyết định” (khoản 3 Điều 20) - theo đó, Nghị định số 104/1998/NĐ-CP ngày 31/12/1998 quy định về hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam phải có Bản cam kết về việc từ bỏ quốc tịch nước ngoài khi được nhập quốc tịch Việt Nam hoặc giấy xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà đương sự là công dân về việc pháp luật của nước đó quy định mặc nhiên mất quốc tịch (Điều 8 Nghị định số 104/1998/NĐ-CP); hay quy định: trẻ sơ sinh bị bỏ rơi và trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai thì có quốc tịch Việt Nam; trong trường hợp này, nếu trẻ dưới 15 tuổi tìm thấy cha mẹ đều có quốc tịch nước ngoài, người giám hộ có quốc tịch nước ngoài thì trẻ đó không còn quốc tịch Việt Nam (Điều 19).
Tuy nhiên, đối với điều khoản quy định về việc trở lại quốc tịch Việt Nam (Điều 21 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998) thì lại không đặt ra yêu cầu phải thôi quốc tịch nước ngoài hiện có và Điều 13 Nghị định số 104/1998/NĐ-CP quy định về hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam cũng không đặt ra yêu cầu phải có giấy tờ chứng minh việc thôi quốc tich hiện có khi trở lại quốc tịch Việt Nam.
- Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008
Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008, Điều 4 có tên là “Nguyên tắc quốc tịch” (thay cho tên của Điều 3 Luật quốc tịch năm 1998 là “Nguyên tắc một quốc tịch”). Như vậy, Luật quốc tịch năm 2008 đã bỏ đi từ “một” tại tên điều - đó là sự mở hơn nữa về nguyên tắc quốc tịch. Bên cạnh đó, nội dung Điều 4 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã bổ sung quy định có tính ngoại lệ rất quan trọng“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này có quy định khácthay vì nội dung điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 về nguyên tắc một quốc tịch chỉ quy định “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam”.  Những trường hợp được Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định khác cho phép có hai quốc tịch là: (1) trường hợp đặc biệt được Chủ tịch nước cho phép giữ quốc tịch nước ngoài khi xin nhập/xin trở lại quốc tịch Việt Nam: Người nhập quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người quy định tại khoản 2 Điều này, trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép (khoản 3 Điều 19) và Người được trở lại quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người sau đây, trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép (khoản 5 Điều 23); (2) trẻ em là công dân Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi: Trẻ em là công dân Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi thì vẫn giữ quốc tịch Việt Nam (khoản 1 Điều 37), trẻ em là người nước ngoài được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi: Trẻ em là người nước ngoài được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi thì có quốc tịch Việt Nam (khoản 2 Điều 37) và (3) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam (khoản 2 Điều 13) - liên quan đến việc thừa nhận người Việt Nam định cư ở nước ngoài có thể có hai quốc tịch, Luật này quy định: ... trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, phải đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để giữ quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, ngày 24 tháng 6 năm 2014, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008; Luật này sửa đổi nội dung Điều 13 và bãi bỏ khoản 3 Điều 26 Luật Quốc tịch năm 2008 trên tinh thần bỏ quy định về yêu cầu đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam bằng việc thay quy định về giữ quốc tịch Việt Nam băng việc đăng ký để được xác định có quốc tịch Việt Nam và cấp Hộ chiếu Việt Nam: ... Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam mà không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 11 của Luật này thì đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để được xác định có quốc tịch Việt Nam và cấp Hộ chiếu Việt Nam (Điều 1).
Và, để khẳng định nguyên tắc “một quốc tịch mềm dẻo”, Luật Quốc tịch năm 2008 quy định rõ ràng cơ chế đảm bảo thực hiện như: ... nếu xét thấy có đủ điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam thì gửi thông báo bằng văn bản cho người xin nhập quốc tịch Việt Nam để làm thủ tục xin thôi quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp... (khoản 3 Điều 21) và: nếu xét thấy người xin trở lại quốc tịch Việt Nam có đủ điều kiện được trở lại quốc tịch Việt Nam thì gửi thông báo bằng văn bản cho người đó để làm thủ tục xin thôi quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp...  (khoản 4 Điều 25) hay: Trường hợp cha hoặc mẹ được nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam thì con chưa thành niên sinh sống cùng với người đó cũng có quốc tịch Việt Nam, nếu cha mẹ không thỏa thuận bằng văn bản về việc giữ quốc tịch nước ngoài của người con (khoản 2 Điều 35)...
Việc khẳng định một số ngoại lệ có thể có hai quốc tịch theo quy định của Luật Quốc tịch năm 2008 không có nghĩa là từ bỏ nguyên tắc một quốc tịch mà chỉ là sửa đổi nguyên tắc này cho mềm dẻo hơn, phù hợp với chính sách của Nhà nước ta về hội nhập quốc tế, đại đoàn kết dân tộc và chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài: "Giải quyết nhanh chóng, thỏa đáng yêu cầu của người Việt Nam ở nước ngoài liên quan đến vấn đề quốc tịch" (Nghị quyết số 36-NQ-TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài).
                                                           *
                                                       *      *
Như vậy, có thể thấy, qua từng thời kỳ lịch sử pháp luật về quốc tịch, nguyên tắc quốc tịch được chuyển dần từ áp dụng nguyên tắc một quốc tịch triệt để, sang nguyên tắc một quốc tịch mềm dẻo; tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, nguyên tắc một quốc tịch luôn là nguyên tắc chủ đạo, xuyên suốt, việc công dân Việt Nam có thể đồng thời có quốc tịch nước khác chỉ là trường hợp ngoại lệ./.
 
[1] Luật Quốc tịch năm 1988 đã bãi bỏ Sắc lệnh số 53/SL, Sắc lệnh số 73/SL, Điều 6 Sắc lệnh số 215/SL, Sắc lệnh số 51/SL và Nghị quyết số 1043-NQ/TVQH.
 

Hoàng Lan


Các tin đã đưa ngày:
                                  
                                                                                                                                                                                                                                                                                                                      
  • Lượt truy cập: