Một số kết quả đạt được sau thực hiện Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành

(01/12/2017)

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành đã ghi nhận nhiều kết quả

Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 (sau đây gọi là Luật quốc tịch năm 2008) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 4 ngày 13/11/2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009 và thay thế Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998. Sau hơn 08 năm triển khai thi hành cho thấy, Luật quốc tịch năm 2008 đã phát huy tốt vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quốc tịch, tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc xác định quốc tịch Việt Nam, giải quyết kịp thời các yêu cầu xin nhập/xin trở lại/xin thôi quốc tịch Việt Nam; đồng thời, góp phần quan trọng vào việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, hiện thực hóa chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước, tăng cường sự đoàn kết, gắn bó của cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài với quê hương, đất nước. Luật quốc tịch năm 2008 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành (sau đây gọi chung là văn bản hướng dẫn thi hành) đã đánh dấu bước phát triển quan trọng trong lĩnh vực quốc tịch, tạo thuận lợi, dễ dàng cho việc nhập quốc tịch Việt Nam (trên cơ sở miễn, giảm nhiều điều kiện) đối với một số lượng lớn người không quốc tịch cư trú trên lãnh thổ Việt Nam từ hàng chục năm qua và đã được dư luận quốc tế đánh giá cao. Cụ thể như sau:
Một là, nhiều hoạt động cụ thể đã được triển khai, hỗ trợ tích cực cho việc triển khai thi hành Luật quốc tịch năm 2008 được đồng bộ, thống nhất
- Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật quốc tịch năm 2008 đã được xây dựng và ban hành:
Để triển khai thi hành Luật quốc tịch năm 2008, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tham mưu, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành và ban hành theo thẩm quyền 10 văn bản quy định hướng dẫn thi hành Luật (gồm 2 Nghị định, 3 Thông tư liên tịch và 5 Thông tư). Có thể nói, hệ thống văn bản này cơ bản đã được ban hành đầy đủ, tạo thuận lợi cho các cơ quan nhà nước và người dân trong việc thực hiện.
- Việc tổ chức triển khai thi hành Luật quốc tịch năm 2008 được các cơ quan có liên quan từ Trung ương đến địa phương coi trọng:
+ Về phía Bộ Tư pháp: Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Quyết định số 4204/QĐ-BTP ngày 29/12/2008 phê duyệt kế hoạch triển khai Luật quốc tịch năm 2008, giao nhiệm vụ cụ thể (lộ trình thực hiện, thời gian hoàn thành) cho từng bộ, đơn vị thuộc bộ có liên quan (cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp) trong triển khai thực hiện Luật. Tiếp đó, ngày 21/02/2011, Bộ Tư pháp có Công văn số  619/BTP-HCTP đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi là CQĐD) lưu ý thêm một số vấn đề liên quan đến thực hiện Luật quốc tịch năm 2008.
+ Về phía Bộ Ngoại giao: Bộ Ngoại giao đã ban hành kế hoạch, văn bản chỉ đạo, triển khai thi hành Luật quốc tịch năm 2008 đến các CQĐD, đồng thời mở các lớp tập huấn về công tác quốc tịch và công tác lãnh sự cho các cán bộ lãnh sự trước khi nhận nhiệm vụ tại CQĐD (100% cán bộ đảm nhận công tác lãnh sự tại CQĐD đều được cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ lãnh sự trước khi đi công tác nhiệm kỳ).
+ Về phía địa phương: UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã ban hành kế hoạch triển khai thi hành Luật quốc tịch năm 2008 (60/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Luật quốc tịch). Một số địa phương ban hành Kế hoạch riêng về giải quyết việc nhập quốc tịch Việt Nam cho người không quốc tịch cư trú ổn định tại Việt Nam từ 20 năm trở lên theo Điều 22 của Luật, ban hành Quyết định công bố thủ tục hành chính về quốc tịch, thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung, thay thế thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tư pháp.
- Công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Luật quốc tịch năm 2008 và văn bản hướng dẫn thi hành được thực hiện dưới nhiều hình thức:
+ Bộ Tư pháp: mở chuyên mục giới thiệu Luật quốc tịch năm 2008 và thủ tục hành chính giải quyết các việc về quốc tịch trên Cổng thông tin điện tử của Bộ; trường ĐH Luật Hà Nội chỉnh lý giáo trình Luật quốc tế để phù hợp với những quy định của Luật quốc tịch năm 2008 và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành; hướng dẫn các Sở Tư pháp về công tác tuyên truyền, phổ biến những nội dung cơ bản của Luật; biên soạn, phát hành sách hỏi đáp pháp luật, đặc san tuyên truyền Luật đến cơ quan, tổ chức, cá nhân...
+ Bộ Ngoại giao: chỉ đạo Cục Lãnh sự, Ủy ban người Việt Nam ở nước ngoài hướng dẫn CQĐD tuyên truyền, phổ biến Luật quốc tịch năm 2008 cho đối tượng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài bằng nhiều hình thức; đăng tải thông tin trên mạng của Bộ Ngoại giao và của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; trả lời phỏng vấn trên VTV4 về những điểm mới của Luật; trực tiếp tuyên truyền, phổ biến Luật qua các cuộc tiếp xúc với bà con cộng đồng, Hội người Việt ở nước sở tại; nhiều CQĐD có hộp thư điện tử để tiếp nhận, hướng dẫn và trả lời những câu hỏi liên quan đến quốc tịch...
+ Tại các địa phương, công tác tuyên truyền pháp luật về quốc tịch được đa dạng hóa thông qua nhiều hình thức: Sở Tư pháp TP Hồ Chí Minh đã phối hợp với Đài truyền hình TP Hồ Chí Minh thực hiện loạt chương trình truyền hình “10 phút tiếp dân” phát định kỳ vào thứ 6 hàng tuần, trong đó đã ghi hình và phát sóng 02 chương trình về quốc tịch; Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng đã chủ động phối hợp với Đài phát thanh - Truyền hình tỉnh mở chuyên mục “Pháp luật và cuộc sống” nhằm tuyên truyền các quy định của Luật quốc tịch, phối hợp với đài truyền thanh 11 huyện mở chuyên mục “phổ biến, giáo dục pháp luật” trong đó có nội dung về quốc tịch...
- Tổ chức bộ máy, nhân lực làm công tác quốc tịch được kiện toàn:
+ Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao với vai trò nòng cốt được Chính phủ giao triển khai pháp luật về quốc tịch đã chủ động củng cố, kiện toàn đội ngũ công chức làm công tác quốc tịch. Tại Bộ Tư pháp, công tác quốc tịch được giao cho Phòng Quản lý quốc tịch (thuộc Vụ Hành chính tư pháp trước đây, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực hiện nay). Tại Bộ Ngoại giao, công tác quốc tịch được giao cho Cục Lãnh sự - đơn vị chủ trì hướng dẫn, theo dõi và quản lý việc thực hiện quốc tịch tại các CQĐD Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời bố trí cán bộ lãnh sự có đủ năng lực, kiến thức và kinh nghiệm xử lý công việc liên quan đến quốc tịch tại CQĐD, nhất là tại địa bàn có đông người Việt Nam sinh sống.
+ Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ đã phân công đơn vị đầu mối làm công tác quốc tịch (Vụ Pháp luật), đồng thời bố trí công chức chuyên trách, phối hợp chặt chẽ với công chức Bộ Tư pháp trong quá trình kiểm tra, hoàn thiện hồ sơ, trình Chủ tịch nước  xem xét  quyết định việc cho nhập, cho trở lại, cho thôi quốc tịch Việt Nam.
+ Tại UBND cấp tỉnh: công tác quốc tịch được giao cho Sở Tư pháp giúp UBND cấp tỉnh thực hiện. Tại các Sở Tư pháp đều có Phòng Hành chính tư pháp – là đơn vị trực tiếp thực hiện công tác quốc tịch. Riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, Sở Tư pháp thành lập Phòng Hộ tịch - Quốc tịch chuyên trách tham mưu, xử lý các vấn đề về quốc tịch trên địa bàn thành phố.
- Công tác tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ quốc tịch được triển khai thực hiện:
+ Bộ Tư pháp: trong cuối quý II đầu Quý III/2009 đã tổ chức 2 lớp tập huấn (tại 2 miền) cho cán bộ, công chức trực tiếp làm công tác quốc tịch của UBND cấp tỉnh và Sở Tư pháp về những nội dung cơ bản của Luật quốc tịch năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành; kỹ năng, nghiệp vụ giải quyết việc nhập quốc tịch Việt Nam theo Điều 22 cho người không quốc tịch cư trú ổn định tại Việt Nam từ 20 năm trở lên tính đến ngày Luật có hiệu lực thi hành (ngày 01/7/2009).
+ Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp tổ chức một số lớp tập huấn cho các cán bộ ngoại giao làm công tác quốc tịch tại các CQĐD về nội dung cơ bản của Luật quốc tịch năm 2008, các văn bản hướng dẫn thi hành; kỹ năng, nghiệp vụ giải quyết yêu cầu về đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam tại các CQĐD.
+ Các địa phương thực hiện lồng ghép nghiệp vụ về quốc tịch với tập huấn về nghiệp vụ hộ tịch.
- Công tác giải quyết hồ sơ quốc tịch có nhiều chuyển biến tích cực:
+ Theo báo cáo tổng kết của các địa phương và CQĐD Việt Nam ở nước ngoài, từ ngày 01/7/2009 đến ngày 31/3/2017 (số liệu thống kê theo yêu cầu của Bộ Tư pháp tại văn bản số: 733/QĐ-BTP ngày  25 tháng 5 năm 2017), Chủ tịch nước đã quyết định cho phép 5.025 trường hợp được nhập quốc tịch Việt Nam, 71 trường hợp được trở lại quốc tịch Việt Nam, 62.315 trường hợp được thôi quốc tịch Việt Nam. Trong số này, số hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam tập trung đông ở địa bàn Đức, Đài Loan, Hàn Quốc, Na Uy, Nhật Bản... là những nước theo nguyên tắc một quốc tịch, bên cạnh đó, cũng có số ít công dân Việt Nam cư trú ở trong nước cũng làm thủ tục xin thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài (số này chủ yếu là trẻ em xin thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch theo quốc tịch của cha hoặc mẹ là người nước ngoài); hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam tập trung ở địa bàn Đài Loan, CH Séc (địa bàn Đài Loan đa số là những chị em lấy chồng người Trung Quốc (Đài Loan) đã thôi quốc tịch Đài Loan nhưng chưa được nhập quốc tịch Đài Loan), địa bàn CH Séc do có thay đổi về pháp Luật quốc tịch cho phép công dân nước ngoài đồng thời có quốc tịch Séc mà không phải thôi quốc tịch gốc). Việc nhập quốc tịch Việt Nam chủ yếu được giải quyết cho người không quốc tịch cư trú ổn định tại Việt Nam, số rất ít là công dân nước ngoài  và số này chủ yếu là người có vợ/chồng là công dân Việt Nam và còn lại là vận động viên thể thao nhập tịch để thi đấu cho các câu lạc bộ trong nước (theo đánh giá trực tiếp của các Câu lạc bộ, những vận động viên nước ngoài nhập quốc tịch Việt Nam tập luyện, thi đấu tốt, tạo nên sự cạnh tranh cao, lành mạnh trong Câu lạc bộ, có nhiều đóng góp và tăng cường sức mạnh cho Câu lạc bộ; những vận động viên này đều chấp hành pháp luật tốt, không có vi phạm pháp luật trong thời gian đang thi đấu cho Câu lạc bộ).
+ Quy định tại Điều 22 Luật quốc tịch năm 2008: Người không quốc tịch mà không có đầy đủ các giấy tờ về nhân thân, nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ 20 năm trở lên tính đến ngày Luật này có hiệu lực và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam thì được nhập quốc tịch Việt Nam theo trình tự, thủ tục và hồ sơ do Chính phủ quy định đã tạo cơ sở pháp lý giải quyết việc nhập quốc tịch Việt Nam cho hàng ngàn người không quốc tịch đang cư trú trên lãnh thổ Việt Nam từ 20 năm trở lên, góp phần quan trọng vào việc giải quyết tồn đọng mang tính lịch sử về tình trạng người không quốc tịch ở nước ta. Bên cạnh đó, đối với những người di cư tự do từ các nước có chung đường biên giới với Việt Nam mà chưa đủ điều kiện để nhập quốc tịch Việt Nam theo Điều 22 hay theo thủ tục thông thường thì cũng được áp dụng Luật quốc tịch năm 2008 để giải quyết theo thủ tục đơn giản (đối với người di cư tự do Lào thì thực hiện theo Thỏa thuận giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào về việc giải quyết vấn đề người di cư tự do và kết hôn không giá thú trong vùng biên giới hai nước; đối với người di cư tự do từ Campuchia thì thực hiện theo Tiểu Đề án “Giải quyết các vấn đề về quốc tịch, hộ tịch, hộ khẩu và các giấy tờ tùy thân khác cho người di cư tự do từ Campuchia về nước”).
+ Thực hiện quy định tại Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT-BTP-BNG-BCA ngày 01/3/2010 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Bộ Công an hướng dẫn hướng dẫn thi hành Nghị định số 78/2009/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 05/2013/TTLT-BTP-BNG-BCA ngày 31/01/2013 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Bộ Công an sửa đổi, bổ sung Điều 13 Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT-BTP-BNG-BCA, các Sở Tư pháp trong cả nước và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã cấp 15.058 Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam; 1.398 Giấy xác nhận gốc Việt Nam cho người có yêu cầu.
- Công tác kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo được tăng cường:
+ Trong năm 2017, Bộ Tư pháp (Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực) tiến hành 01 cuộc thanh tra chuyên ngành về công tác quốc tịch tại Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh - địa phương phát sinh nhiều nhất các vụ việc về quốc tịch. Ngoài ra, việc kiểm tra tình hình triển khai thi hành Luật quốc tịch năm 2008 được kết hợp với công tác kiểm tra đăng ký, quản lý hộ tịch hàng năm.
+ Bộ Ngoại giao cũng tổ chức kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ tại các CQĐD, trong đó có việc thực hiện công tác quốc tịch. Về cơ bản, công tác giải quyết hồ sơ quốc tịch tại các CQĐD được tiến hành tốt, không xảy ra sai sót.
+ Về khiếu nại, trong các năm qua chỉ có 1 trường hợp khiếu nại về công tác quốc tịch được gửi đến Bộ Tư pháp và đã được giải quyết kịp thời theo đúng quy định pháp luật; người khiếu nại bằng lòng với kết quả giải quyết.
- Công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quốc tịch được đẩy mạnh:
+ Từ năm 2012, Bộ Tư pháp đã xây dựng và đưa vào vận hành Cơ sở dữ liệu về quốc tịch. Cho đến nay, toàn bộ danh sách những người đã được Chủ tịch nước cho nhập, cho trở lại, cho thôi quốc tịch Việt Nam từ những năm 90 thế kỷ trước đã được nhập thông tin vào Cơ sở dữ liệu để phục vụ yêu cầu quản lý cũng như tra cứu thông tin về quốc tịch. Tính từ 2010 đến nay, Bộ Tư pháp đã tra cứu và trả lời kết quả cho trên 14.880 trường hợp yêu cầu tra cứu về quốc tịch.
+ Bộ Ngoại giao hiện tại đang triển khai đề án tổng thể để nâng cấp các dịch vụ công từ cấp độ 2 lên cấp độ 3 tại các CQĐD, trong đó có việc triển khai nghiên cứu xây dựng phần mềm về công tác quốc tịch ở nước ngoài.
+ Bên cạnh việc cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc tịch hiện có (đặt tại Cục hộ tịch, quốc tịch, chứng thực), trong năm 2016, Bộ Tư pháp cũng đã xây dựng phân hệ phần mềm xử lý hồ sơ quốc tịch tại Sở Tư pháp và chuẩn bị triển khai thí điểm tại một số địa phương. Qua đó giúp cho việc cập nhật hồ sơ quốc tịch vào phần mềm được thuận lợi, nhanh chóng hơn, từ đó rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ cũng như theo dõi được tiến độ giải quyết hồ sơ, đồng thời phục vụ tốt việc quản lý và tra cứu quốc tịch theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức.
Hai là, việc triển khai thực hiện Luật quốc tịch năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành cho thấy đã đạt nhiều kết quả:
- Luật quốc tịch năm 2008 về cơ bản đã phù hợp với Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quyền con người, quyền công dân:
Thực tiễn cho thấy, Luật quốc tịch năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành về cơ bản đã phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật có liên quan đến bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân (như Bộ luật dân sự, Luật hộ tịch, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật cư trú, Luật căn cước công dân, Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam…). Đây là hệ thống các văn bản có quy định liên quan đến bảo đảm quyền có quốc tịch Việt Nam của cá nhân, quyền của người không quốc tịch[1]; bảo đảm quyền nhân thân, quyền nhập quốc tịch Việt Nam, quan hệ hôn nhân gia đình của người nước ngoài cư trú, sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam[2]
- Việc khẳng định nguyên tắc một quốc tịch theo hướng “mềm dẻo” đã tạo sự linh hoạt cần thiết cho việc giải quyết các vấn đề về quốc tịch Việt Nam:
Tại Điều 4 về nguyên tắc quốc tịch, Luật quốc tịch năm 2008 quy định: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này có quy định khác. So với Luật quốc tịch năm 1998, tiêu đề và nội dung của điều luật đã có thay đổi[3]. Điều đó cho thấy một thực tế là, Nhà nước đã thừa nhận trong một số trường hợp ngoại lệ công dân Việt Nam có thể có thêm quốc tịch nước ngoài (hai quốc tịch). Những ngoại lệ đó là: i) trường hợp đặc biệt được Chủ tịch nước cho phép giữ quốc tịch nước ngoài khi xin nhập quốc tịch Việt Nam (khoản 3 Điều 19), xin trở lại quốc tịch Việt Nam (khoản 5 Điều 23), ii) trẻ em là công dân Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi, có quốc tịch nước ngoài nhưng vẫn giữ quốc tịch Việt Nam (khoản 1 Điều 37), trẻ em là người nước ngoài được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi thì có quốc tịch Việt Nam (mà vẫn giữ quốc tịch nước ngoài) (khoản 2 Điều 37), iii) người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã có quốc tịch nước ngoài nhưng chưa mất quốc tịch Việt Nam (do pháp luật nước ngoài không bắt buộc người đó phải bỏ quốc tịch Việt Nam), iv) do xung đột pháp luật mà một người có thể vừa có quốc tịch Việt Nam, vừa có quốc tịch nước ngoài[4]. Mặc dù thực tế, số người được nhập quốc tịch Việt Nam và trở lại quốc tịch Việt Nam đồng thời được giữ quốc tịch nước ngoài không nhiều, song điều đó đã phần nào thể hiện sự linh hoạt, mềm dẻo trong chính sách một quốc tịch Việt Nam của Luật quốc tịch năm 2008 so với Luật quốc tịch năm 1998.
- Việc kịp thời ban hành Luật sửa đổi, bổ sung Luật quốc tịch năm 2008 đã bảo đảm giữ quốc tịch Việt Nam cho nhiều người Việt Nam định cư ở nước ngoài:
          Trước khi được sửa đổi năm 2014, khoản 2 Điều 13 Luật quốc tịch năm 2008 quy định “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thì vẫn còn có quốc tịch Việt Nam và trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, phải đăng ký với Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để giữ quốc tịch Việt Nam. Và theo hướng dẫn tại Nghị định số 78/2009/NĐ-CP, nếu không đăng ký giữ thì họ sẽ mặc nhiên mất quốc tịch Việt Nam kể từ sau ngày 01/7/2014. Đây là quy định mới của Luật quốc tịch năm 2008 so với Luật quốc tịch năm 1998. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, gần đến hạn chót nhưng số lượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam tại các cơ quan dại diện là rất ít (đến cuối năm 2013 chỉ có khoảng 2000 trường hợp). Điều đó cũng dẫn đến hệ quả là, do không đăng ký nên sau ngày 01/7/2014 sẽ có hàng triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài mặc nhiên mất quốc tịch Việt Nam[5]. Trước tình hình như vậy, Chính phủ đã trình Quốc hội khóa XIII thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quốc tịch năm 2008, trong đó đã sửa đổi, bổ sung Điều 13 của Luật quốc tịch năm 2008[6] theo hướng bãi bỏ quy định về đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam và bổ sung quy định cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài được đăng ký xác định quốc tịch Việt Nam và cấp Hộ chiếu Việt Nam mà không bị phụ thuộc vào thời gian. Với việc sửa đổi này đã bảo đảm giữ quốc tịch Việt Nam cho nhiều người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
- Quy định rõ trách nhiệm và quan hệ phối hợp giữa các cơ quan trong việc giải quyết các việc về quốc tịch:
Luật quốc tịch năm 2008 đã quy định rõ trách nhiệm và quan hệ phối hợp giữa Bộ Tư pháp với Bộ Ngoại giao, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quá trình xử lý, kịp thời giải quyết nhiều việc quốc tịch, bảo đảm quyền cho người dân, nhất là việc xin nhập/xin trở lại/xin thôi quốc tịch Việt Nam. Việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan ở địa phương với nhau trong việc giải quyết các việc quốc tịch cũng được quy định rõ và thực tế đã xử lý nhiều vụ việc. Từ ngày 01/7/2009 đến 31/3/2017, Công an các địa phương đã phối hợp chặt chẽ với Sở Tư pháp thẩm tra, xác minh nhân thân của 7.284 trường hợp phục vụ quá trình giải quyết các hồ sơ về quốc tịch; Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an (A72) đã phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện xác minh 1.609 hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam, 102 hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam. Trong những năm qua, công tác phối hợp giữa hai ngành Tư pháp và Công an trong việc giải quyết các vấn đề về hộ tịch, quốc tịch, cư trú của người di cư tự do vùng biên giới tiếp tục được tăng cường.
- Thủ tục hành chính trong giải quyết các việc về quốc tịch được công khai, minh bạch:
Với việc quy định cụ thể về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết các việc về quốc tịch (như: xin nhập/xin trở lại/ xin thôi quốc tịch Việt Nam, xin xác nhận có quốc tịch Việt Nam, xác nhận là người gốc Việt Nam...), bước đầu đã bảo đảm sự công khai, minh bạch các thủ tục hành chính, từ đó, việc giải quyết các yêu cầu về quốc tịch của các cá nhân đã có bước phát triển đáng kể cả về chất và lượng, tạo thuận lợi, giải quyết kịp thời các hồ sơ xin nhập/thôi/trở lại quốc tịch Việt Nam, xác nhận người có quốc tịch Việt Nam./.
 
[1] Ví dụ: Bộ luật dân sự năm 2015 (Điều 31) quy định: “Cá nhân có quyền có quốc tịch”; “Quyền của người không quốc tịch cư trú, sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam được bảo đảm theo Luật”.
[2] Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
[3] Luật quốc tịch năm 1998 có tiêu đề là “Nguyên tắc một quốc tịch” thì đến Luật quốc tịch năm 2008, tiêu đề đã lược bỏ từ “một”, chỉ còn lại là “Nguyên tắc quốc tịch” và nội dung của Điều này cũng có sự thay đổi. Bên cạnh quy định Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam (như Luật quốc tịch năm 1998) thì còn thêm nội dung quan trọng “...trừ trường hợp Luật này có quy định khác”.
[4] Trẻ em có cha mẹ là công dân Việt Nam, sinh ra ở quốc gia xác định quốc tịch theo nguyên tắc “quyền nơi sinh” thì trẻ em đó vừa có quốc tịch Việt Nam (theo huyết thống của cha mẹ), vừa có quốc tịch của nước nơi được sinh ra.
[5] Trước nguy cơ hàng triệu người có thể bị mất quốc tịch Việt Nam do không đăng ký giữ quốc tịch, theo đề nghị của Bộ Ngoại giao và các Bộ, ngành liên quan, Bộ Tư pháp đã xây dựng dự thảo Luật báo cáo Chính phủ, trình Quốc hội xem xét sửa đổi quy định trên đây (Điều 13 khoản 2) của Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 theo hướng: bỏ quy định về việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam và không quy định thời hạn đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam (để tránh việc đương nhiên mất quốc tịch Việt Nam của công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài đồng thời có quốc tịch nước ngoài).
[6] Điều 13: “...Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam mà không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 11 của Luật này thì đăng ký với Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để được xác định có quốc tịch Việt Nam và cấp Hộ chiếu Việt Nam”.

Hoàng Lan


Các tin đã đưa ngày:
                                  
                                                                                                                                                                                                                                                                                                                      
  • Lượt truy cập: