Một số tồn tại, hạn chế sau thực hiện Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành

(13/12/2017)

Qua hơn 08 năm thực hiện Luật quốc tịch năm 2008 và các văn bản quy định chi tiết thi hành đã thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế. Cụ thể như sau:

Một là, việc xây dựng văn bản quy định chi tiết thi hành Luật quốc tịch năm 2008 còn chưa đáp ứng được yêu cầu:
- Việc xây dựng văn bản quy định chi tiết thi hành Luật quốc tịch năm 2008 còn chậm so với yêu cầu. Luật quốc tịch năm 2008 có hiệu lực từ ngày 01/7/2009, nhưng Nghị định và các Thông tư, Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành được ban hành khá muộn (không cùng thời điểm có hiệu lực với Luật), nên đã gây lúng túng cho các cơ quan trong giai đoạn đầu triển khai thực hiện Luật.
- Nhiều vấn đề được quy định trong Luật quốc tịch năm 2008, nhưng chưa được cụ thể hóa, hướng dẫn trong các văn bản dưới Luật hoặc tuy có được hướng dẫn nhưng chưa rõ, nên dẫn đến cách hiểu khác nhau, khó khăn trong áp dụng, thực hiện. Bên cạnh đó, nhiều quy định hướng dẫn về trình tự, thủ tục giải quyết các việc quốc tịch theo lối thủ công tại văn bản dưới Luật (như Nghị định, Thông tư) đến nay đã lạc hậu do việc ứng dụng ngày càng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào quá trình giải quyết, nên gây khó khăn cho các cơ quan trong quá trình thực hiện Luật và chậm chễ trong quá trình giải quyết.
- Nhiều vấn đề có tính chất phối hợp liên ngành cần tiếp tục được hướng dẫn hoặc làm rõ thêm, nhưng theo quy định của Luật ban hành văn bản pháp luật hiện nay thì không còn hình thức Thông tư liên tịch, nên cũng dẫn đến khó khăn cho các cơ quan trong quá trình phối hợp, thống nhất ý kiến.
Hai là, hiệu quả của công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Luật quốc tịch năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa cao
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Luật quốc tịch năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành tại nhiều địa phương còn chưa được thực hiện thường xuyên; hình thức và phương pháp tuyên truyền còn chậm đổi mới, nên trong thực tế hiệu quả chưa cao, đa số người dân chưa thực sự hiểu được quyền, lợi ích của mình liên quan đến vấn đề quốc tịch, nhất là đối với người di cư tự do. 
Tại các CQĐD, công tác tuyên truyền, tuyên truyền, phổ biến những chính sách về quốc tịch đến bà con còn nhiều khó khăn, hạn chế (do nhiều nước có vùng lãnh thổ rộng lớn, trong khi bà con ta sinh sống rải rác, không tập trung, chủ yếu lo yêu cầu làm ăn, hoặc ở một số địa bàn do đi lại khó khăn, bà con ít tiếp xúc với công nghệ thông tin…).
Ba là, việc xây dựng, quản lý, khai thác sử dụng Cơ sở dữ liệu về quốc tịch chưa đáp ứng được yêu cầu
- Cơ sở dữ liệu về quốc tịch đã được Bộ Tư pháp xây dựng và đưa vào sử dụng từ năm 2012. Đến thời điểm hiện nay cơ sở này đã bộc lộ những bất cập như: số trường thông tin nhập vào Cơ sở dữ liệu còn hạn chế (chỉ có họ tên, ngày tháng năm sinh, nơi cư trú hiện tại), nên không đáp ứng được nhu cầu tra cứu, trích xuất các thông tin cần thiết như nơi đăng ký khai sinh, nơi thường trú trước khi xuất cảnh[1] và cũng không chia sẻ được với các bộ, ngành có liên quan để khai thác, sử dụng chung[2]. Vì thế, không sử dụng được để tra cứu thông tin phục vụ việc xóa đăng ký thường trú, hủy chứng minh nhân dân/căn cước công dân của người đã được thôi quốc tịch Việt Nam.
- Việc nhập liệu trước đây chủ yếu được thực hiện thủ công (nhập tay) nên chưa đảm bảo chất lượng thông tin, nhiều trường hợp phải kiểm tra, đối chiếu với bản giấy để tránh sai sót. Vì thế đến nay, Cơ sở dữ liệu này vẫn chưa thể chia sẻ với các địa phương và Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong việc tra cứu thông tin về quốc tịch.
Bốn là, công tác tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức làm công tác quốc tịch chưa thực hiện thường xuyên
Công tác tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về quốc tịch nhằm nâng cao trình độ cho cán bộ, công chức làm công tác quốc tịch chưa được thực hiện thường xuyên. Kể từ khi Luật quốc tịch năm 2008 có hiệu lực đến nay, Bộ Tư pháp chỉ tổ chức được 2 lớp tập huấn về công tác quốc tịch cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp tỉnh ở 2 miền theo Kế hoạch triển khai thi hành Luật. Nhưng sau đó Sở Tư pháp cũng không có kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ lại cho cán bộ, công chức tại địa phương. Đến nay, Bộ Tư pháp cũng chưa có kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc xác định quốc tịch Việt Nam cho trẻ em khi đăng ký khai sinh, mà chỉ tiến hành lồng ghép trong quá trình bồi dưỡng nghiệp vụ về đăng ký hộ tịch. Vì thế, trong việc xác định quốc tịch Việt Nam để ghi vào Giấy khai sinh khi đăng ký khai sinh cho trẻ em, đăng ký lại việc sinh cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài hay bổ sung quốc tịch Việt Nam do Giấy khai sinh trước đây không có mục ghi về quốc tịch, đã xảy ra một số sai sót. Tuy nhiên, thực tế hiện nay chưa có cơ chế pháp lý để xử lý sai sót đó, ngoại trừ việc hủy bỏ giấy tờ hộ tịch (giấy khai sinh) nếu “ghi nhầm” quốc tịch Việt Nam cho người nước ngoài.
Năm là, nhiều quy định trong văn bản hướng dẫn thi hành Luật quốc tịch năm 2008 trở nên bất cập, gây khó khăn cho việc giải quyết các hồ sơ về quốc tịch
Thứ nhất, nhiều nội dung quy định của Luật quốc tịch năm 2008 chưa được hướng dẫn hoặc tuy được hướng dẫn nhưng chưa rõ, chưa đầy đủ gây khó khăn cho việc áp dụng. Cụ thể như sau:
- Chưa quy định rõ ràng về cách thức, thời điểm xác định quốc tịch Việt Nam đối với trẻ em sinh ra có cha mẹ đều là công dân Việt Nam hoặc trẻ em sinh ra có một bên cha hay mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài. Tồn tại phổ biến hiện nay là, khi trẻ em sinh ra ở nước ngoài (có cả cha mẹ là công dân Việt Nam hoặc chỉ có cha hay mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài), được đăng ký khai sinh và xác định có quốc tịch nước ngoài (theo pháp luật của nước nơi trẻ em được sinh ra). Trong trường hợp này vẫn có ý kiến băn khoăn về việc trẻ em có quốc tịch Việt Nam hay không? một số ý kiến cho rằng, trẻ em vẫn có quyền xác định có quốc tịch Việt Nam, ngay cả sau khi trẻ em đã được đăng ký khai sinh và có quốc tịch nước ngoài (trẻ được mang hai quốc tịch). Nếu trẻ em có quốc tịch Việt Nam thì cách thức xác định quốc tịch cho trẻ như thế nào (thông qua việc đăng ký lại khai sinh hay ghi chú việc trẻ em đã được khai sinh ở nước ngoài). Đây là vấn đề cần được hướng dẫn rõ ràng, nhất là đối với trẻ em có cha/mẹ là công dân Việt Nam, người kia là người nước ngoài.
- Việc xác định quốc tịch Việt Nam cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam có một bên hoặc cả hai bên cha mẹ là người không quốc tịch, cũng còn cách hiểu và áp dụng khác nhau nên dẫn đến một số trường hợp trẻ em không được xác định quốc tịch.
- Chưa có quy định hướng dẫn rõ ràng, cụ thể về “trường hợp đặc biệt” để trình Chủ tịch nước cho nhập, cho trở lại quốc tịch Việt Nam mà được giữ quốc tịch nước ngoài[3]. Đây là một trong những vướng mắc, bất cập lớn nhất khi xem xét giải quyết hồ sơ xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam thời gian qua. Về phía người dân thì hiểu quy định này theo nghĩa, nếu họ có vợ, chồng, cha, mẹ, con là công dân Việt Nam, thì họ thuộc “trường hợp đặc biệt” để được Chủ tịch nước cho giữ quốc tịch nước ngoài khi xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam. Nhưng xét trên nguyên tắc một quốc tịch Việt Nam, với tư cách là cơ quan “gác cổng” thẩm định hồ sơ quốc tịch, Bộ Tư pháp có quyền yêu cầu người xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam phải thôi quốc tịch nước ngoài, trước khi trình Chủ tịch nước xem xét quyết định. Cách làm này không phải lúc nào cũng có hiệu quả. Đã xuất hiện một số trường hợp khiếu nại lên Bộ Tư pháp vì họ cho rằng việc yêu cầu họ phải thôi quốc tịch nước ngoài là “trái quy định của Luật quốc tịch năm 2008”.
- Chưa có quy định hướng dẫn loại trừ khi thực hiện điểm a khoản 1 Điều 19 Luật quốc tịch năm 2008 liên quan đến điều kiện để được nhập quốc tịch Việt Nam, theo đó người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam mới được nhập quốc tịch. Điều đó dẫn đến hệ quả là trẻ em, người chưa thành niên thì không đủ điều kiện để xem xét cho nhập quốc tịch Việt Nam[4]. Đồng thời, cũng chưa có quy định hướng dẫn việc thực hiện Điều 35 của Luật. Theo đó, hiểu như thế nào về việc con chưa thành niên đương nhiên được thay đổi quốc tịch theo cha, mẹ khi cha mẹ được nhập, thôi, trở lại quốc tịch Việt Nam. Nghĩa là, người con cũng phải có hồ sơ xin nhập, xin thôi, xin trở lại quốc tịch Việt Nam kèm theo hồ sơ của cha mẹ[5], hay cha mẹ chỉ cần ghi tên con vào hồ sơ của mình là đủ điều kiện để thay đổi[6].
- Chưa có quy định ngoại lệ cần có sự linh động, linh hoạt trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết một số trường hợp cụ thể bởi nếu áp dụng chung các quy định pháp luật thì không khả thi và rất khó cho đương sự:
+ Đối với hồ sơ xin nhập/xin trở lại quốc tịch Việt Nam mà yêu cầu mọi trường hợp phải có Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp trong thời gian đương sự cư trú ở nước ngoài, thì đối với trường hợp đương sự đã về cư trú ổn định tại Việt Nam, nếu yêu cầu đương sự phải quay lại nước ngoài để xin cấp phiếu lý lịch tư pháp, thì e rằng quá cứng nhắc, không khả thi, gây tốn kém, lãng phí và quá khó khăn đối với họ[7].
+ Về trường hợp xin cho con chưa thành niên được nhập, trở lại, thôi quốc tịch Việt Nam mà yêu cầu mọi trường hợp phải có ý kiến đồng ý của cả cha và mẹ, là khó khả thi. Bởi quy định như vậy chỉ có thể thực hiện được khi cha mẹ đang trong thời kỳ hôn nhân và cùng chung sống. Còn đối với các trường hợp cha mẹ đã ly hôn, ly thân, thậm chí cắt đứt liên lạc, không liên hệ với nhau, không biết nơi ở của nhau..., thì việc yêu cầu lấy ý kiến của cả cha và mẹ của trẻ em là rất khó thực hiện[8]. Nên chăng, ở đây cần xét đến mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của trẻ em để có sự linh động/linh hoạt theo hướng chỉ cần ý kiến của người cha hoặc người mẹ mà trẻ đang sống cùng.
- Chưa có quy định hướng dẫn cụ thể, chi tiết về trình tự, thủ tục và nội dung “xác minh về nhân thân” (là xác minh những nội dung gì) theo yêu cầu của Luật quốc tịch đối với một số trường hợp phải xác minh về nhân thân của người xin nhập, xin thôi, xin trở lại quốc tịch Việt Nam, nên gây khó khăn cho cơ quan Công an khi thực hiện. Nhiều trường hợp không xác minh được hoặc thời gian xác minh bị kéo dài làm chậm quá trình giải quyết hồ sơ về quốc tịch, gây bức xúc cho người dân.
- Chưa có quy định hướng dẫn cụ thể để tạo thuận lợi cho người đã mất quốc tịch Việt Nam được trở lại quốc tịch Việt Nam theo Điều 7 và Điều 23 Luật quốc tịch. Do còn có cách hiểu và áp dụng khác nhau, nên dẫn đến hệ quả hiện nay có nhiều trường hợp đã thôi quốc tịch Việt Nam, nhưng vì nhiều lý do khác nhau không được nhập quốc tịch nước ngoài, nên rơi vào tình trạng không quốc tịch, (nhiều người trong số họ chưa được giải quyết cho trở lại quốc tịch Việt Nam mặc dù đã có đơn yêu cầu).
- Chưa có quy định hướng dẫn rõ ràng về trường hợp xin xác nhận có quốc tịch Việt Nam thì bắt buộc phải được cơ quan Công an xác minh về nhân thân, giấy tờ cá nhân, nhất là giấy tờ do cơ quan công an cấp, để từ đó loại trừ trường hợp không có quốc tịch Việt Nam nhưng vẫn có giấy tờ chứng minh quốc tịch. Làm tốt việc này sẽ tránh được trường hợp đương sự lợi dụng xin cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam để bỏ qua thủ tục nhập quốc tịch Việt Nam. Thực tế cho thấy, nhiều người đã thôi quốc tịch Việt Nam nhưng vẫn giữ giấy tờ được cấp trước đó (như Chứng minh nhân dân, Giấy khai sinh ghi quốc tịch Việt Nam, Hộ khẩu…) và thực tế còn có một số người nước ngoài tuy chưa được nhập quốc tịch Việt Nam, nhưng đã được đăng ký thường trú, được cấp Chứng minh nhân dân, thậm chí cả Thẻ cử tri như công dân Việt Nam. Đối với những trường hợp này, nếu chỉ căn cứ thuần túy pháp lý, cho rằng họ có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam (theo Điều 11 Luật quốc tịch năm 2008) thì họ là công dân Việt Nam, từ đó cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam cho họ mà không yêu cầu cơ quan công an xác minh, thì rất sơ hở.
Thứ hai, một số vấn đề tuy đã được đề cập trong văn bản hướng dẫn thi hành Luật quốc tịch năm 2008, nhưng vẫn chung chung nên khó áp dụng:
- Mặc dù Luật quốc tịch năm 2008 đã quy định về người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, người mà việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ là có lợi cho Nhà nước Việt Nam (điểm b, điểm c khoản 2 Điều 19 Luật quốc tịch năm 2008[9]), nhưng cả Nghị định 78/2009/NĐ-CP và Thông tư, Thông tư liên tịch lại không đưa ra được một cách cụ thể hơn, rõ ràng hơn về thời gian đóng góp, mức độ đóng góp, mức độ tài năng... để kết luận việc nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam của họ là “có lợi” cho Nhà nước Việt Nam. Điều đó dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau đối với từng trường hợp cụ thể[10].
- Nghị định số 78/2009/NĐ-CP quy định người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải là người đang thường trú tại Việt Nam (được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp thẻ thường trú). Thực tế cho thấy, việc cấp thẻ thường trú là khá phức tạp vì người nước ngoài phải tuân theo những điều kiện nhất định. Do đó, nhiều người nước ngoài, nhất là người không quốc tịch, không đáp ứng được các điều kiện để được cấp thẻ thường trú - trong khi pháp luật không quy định giấy tờ nào có thể thay thế Thẻ thường trú trong hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam[11]. Đây là khó khăn lớn đối với người không quốc tịch cư trú ổn định tại Việt Nam xin nhập quốc tịch Việt Nam[12].
- Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT-BTP-BNG-BCA ngày 01/3/2010 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Bộ Công an hướng dẫn thi hành Nghị định số 78/2009/NĐ-CP quy định Bộ Tư pháp có trách nhiệm thông báo cho Sở Tư pháp và CQĐD Việt Nam ở nước ngoài, nơi công dân Việt Nam đã đăng ký khai sinh trước đây, hoặc nơi lưu trữ Sổ đăng ký khai sinh để ghi chú vào Sổ đăng ký khai sinh việc cho nhập, cho thôi quốc tịch Việt Nam (kể cả việc ghi chú tiếp việc đã trở lại quốc tịch Việt Nam, nếu trước đó đã ghi chú việc thôi quốc tịch Việt Nam). Tuy nhiên, do mẫu tờ khai chưa có hướng dẫn về việc khai này, nên hầu hết các đương sự ở nước ngoài khi làm hồ sơ xin thôi/trở lại quốc tịch Việt Nam đều không khai về nơi đã đăng ký khai sinh hoặc chỉ khai tên tỉnh/thành phố. Vì vậy, yêu cầu ghi chú vào Sổ đăng ký khai sinh các việc liên quan đến quốc tịch là trên thực tế lâu nay không được thực hiện triệt để.
- Nghị định số 78/2009/NĐ-CP (Điều 21) quy định công dân Việt Nam mà có quốc tịch nước ngoài thì trong thời hạn 2 năm phải thông báo cho CQĐD hoặc Sở Tư pháp nơi người đó cư trú. Tuy nhiên, kể từ ngày 10/11/2009 đến nay mới chỉ có 2.115 người thông báo có quốc tịch nước ngoài - đây là con số quá khiêm tốn so với số đông công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài.
- Quy định về đăng ký để được xác định quốc tịch Việt Nam và cấp Hộ chiếu Việt Nam còn chưa thực sự hiệu quả. Từ khi thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quốc tịch năm 2008 đến nay, mới chỉ có 71 trường hợp đăng ký để được xác định có quốc tịch Việt Nam và cấp Hộ chiếu Việt Nam[13]. Nguyên nhân số lượng người có yêu cầu thấp là do hiện nay đang tồn tại 3 thủ tục khá tương đồng[14]: cấp Hộ chiếu, cấp Hộ chiếu lần đầu, cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam. Vì vậy, khi cần loại giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam, người dân thường lựa chọn thủ tục cấp Hộ chiếu Việt Nam lần đầu.
Thứ ba, một số việc quốc tịch có liên quan đến lĩnh vực quản lý của bộ, ngành khác, nhưng pháp Luật quốc tịch chưa quy định về cơ chế phối hợp và cách thức xử lý hệ quả của việc được nhập, được thôi quốc tịch Việt Nam, nên thực tiễn đang có nhiều vấn đề còn bị bỏ ngỏ (như: hiện nay chưa có quy định về việc thông báo cho cơ quan công an việc công dân Việt Nam đã thôi quốc tịch Việt Nam để xóa đăng ký thường trú, thu hồi Giấy chứng minh nhân dân đã cấp cho người đó trước đây. Vì thế thực tế đã phát sinh những hệ lụy phức tạp, khi một số người vẫn dùng Sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân để thực hiện thủ tục hành chính, thực hiện các giao dịch, đăng ký sở hữu tài sản, vay vốn ngân hàng và hưởng quyền, lợi ích như công dân Việt Nam...).
* Lời kết
Từ những nội dung nêu trên, có thể đánh giá rằng, sau thời gian thực hiện Luật quốc tịch nănm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành mặc dù đã thu được nhiều kết quả nhưng cũng đã bộc lộ khá nhiều tồn tại, hạn chế. Bên cạnh những nguyên nhân khách quan dẫn đến tồn tại, hạn chế (như: tình hình trong nước và quốc tế có những thay đổi tác động đến chính sách, pháp luật quốc tịch Việt Nam; Luật quốc tịch năm 2008 có nhiều quy định mang tính nguyên tắc, nhưng các văn bản quy định chi tiết thi hành lại không hướng dẫn đầy đủ, cụ thể và chưa tiên lượng được nhiều vấn đề do thực tiễn phát sinh, nên gây khó khăn cho việc áp dụng; Luật quốc tịch năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành được ban hành trong giai đoạn chưa đặt ra yêu cầu mạnh mẽ về cải cách thủ tục hành chính như giai đoạn hiện nay, toàn bộ các thủ tục hành chính đều được xây dựng theo hướng thủ công, coi trọng hồ sơ giấy tờ; chưa có sự ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình giải quyết hồ sơ quốc tịch; các quy trình còn phức tạp, kéo dài; một số quy định không khả thi…) thì cũng có những nguyên nhân từ chủ quan (như: chưa hiểu đầy đủ, đúng mức về vai trò, ý nghĩa của chế định quốc tịch, nguyên tắc một quốc tịch; cơ sở dữ liệu hộ tịch còn hạn chế chưa chia sẻ thông tin giữa các cơ quan; công tác tập huấn, bối dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ quốc tịch chưa được thực hiện thường xuyên; cán bộ, công chức làm công tác quốc tịch phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác và thường có sự biến động...). Và, khi đã xác định được những nguyên nhân (cả khách quan và chủ quan) dẫn tới tồn tại, hạn chế thì cần sớm có giải pháp khắc phục để bảo đảm tốt hơn nữa việc thực hiện Luật quốc tịch năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành./.
 
[1] Biết được nơi đăng ký khai sinh sẽ phục vụ cho việc ghi chú những thay đổi về quốc tịch sau này, biết được nơi đăng ký thường trú trước khi xuất cảnh sẽ thực hiện được việc xóa đăng ký thường trú của những người đã thôi quốc tịch Việt Nam.
[2] Bộ Công an (Cục C72) đã có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp chia sẻ CSDL quốc tịch để thông báo cho công an địa phương thực hiện xóa đăng ký đối với những người đã thôi quốc tịch Việt Nam; tuy nhiên, trong CSDL không có trường thông tin về nơi thường trú trước khi xuất cảnh nên không sử dụng được.
[3] Quy định tại đoạn 1 khoản 3 Điều 19 Luật quốc tịch (Người nhập quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người quy định tại khoản 2 Điều này..). và quy định tại đoạn 1 khoản 3 Điều 23 (Người được trở lại quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người sau đây…) đã dẫn đến sự hiểu lầm cho cả người xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam và cơ quan tiếp nhận hồ sơ (Sở Tư pháp và các Cơ quan đại điện Việt Nam ở nước ngoài). Theo đó, đa số người có yêu cầu trở lại quốc tịch Việt Nam thuộc diện có vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ là công dân Việt Nam đều có nguyện vọng được giữ quốc tịch nước ngoài khi xin nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam vì cho rằng mình thuộc diện loại trừ không phải thôi quốc tịch nước ngoài và đều được cơ quan tiếp nhận hồ sơ thụ lý.
[4] Một số Sở Tư pháp đia phương đã theo cách hiểu này nên không thụ lý hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam của trẻ chưa thành niên, trong khi thực tế, để bảo đảm quyền của trẻ em, Bộ Tư pháp vẫn tiếp nhận hồ sơ và Chủ tịch nước vẫn quyết định cho số trẻ em đã được cha mẹ làm hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam được nhập quốc tịch Việt Nam.
[5] Thực tế hiện nay, con chưa thành niên vẫn phải làm hồ sơ cùng cha, mẹ và trong Quyết định của Chủ tịch nước cũng có tên của các trẻ chưa thành niên này.
[6] Điều 35 của Luật quốc tịch năm 2008[6] có quy định về quốc tịch của con chưa thành niên khi cha mẹ được nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam trong 2 trường hợp: (1) khi có sự thay đổi về quốc tịch do nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam của cha mẹ thì quốc tịch của con chưa thành niên sinh sống cùng với cha mẹ cũng được thay đổi theo quốc tịch của họ. (2) Khi chỉ cha hoặc mẹ được nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam thì con chưa thành niên sinh sống cùng với người đó cũng có quốc tịch Việt Nam hoặc mất quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ.
[7] Để giải quyết vướng mắc này, Bộ Tư pháp (Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực) đã có văn bản nhất trí với đề xuất của Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh cho những người gốc Campuchia, gốc Hoa... được miễn nộp Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp trong hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam do có khó khăn về việc xin loại giấy tờ này.
[8] Ở đây pháp luật chỉ mới thiên về việc bảo vệ quyền của cha mẹ đối với con, mà chưa chú ý đến quyền lợi đích thực, quyền lợi tốt nhất của đứa trẻ. Bởi trong trường hợp không có đủ ý kiến của cả cha và mẹ thì việc xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam của trẻ em không thể thực hiện được. Một khi không được giải quyết, thì quyền lợi của trẻ em sẽ không được bảo đảm, đặc biệt đối với những  trẻ em đã ra nước ngoài sinh sống cùng cha hoặc mẹ.
[9] “Người mà việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là người có tài năng trong các lĩnh vực khoa học, kinh tế, văn hóa, xã hội, nghệ thuật, thể thao, được cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng nhận và cơ quan quản lý nhà nước cấp bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận việc nhập quốc tịch của họ sẽ đóng góp cho sự phát triển trong các lĩnh vực nói trên của Việt Nam”.
[10] Phổ biến nhất trong thời gian qua là việc những cầu thủ bóng đá nước ngoài xin nhập quốc tịch Việt Nam và xin giữ quốc tịch nước ngoài. Nhưng đánh giá về tài năng của họ như thế nào, đóng góp ra sao đối với nền bóng đá Việt Nam… thì cho đến nay Liên đoàn bóng đá Việt Nam nói chung, các Câu lạc bộ nói riêng, vẫn chưa có đánh giá tổng kết về vấn đề này. 
[11] Với những trường hợp chưa được nhập quốc tịch Việt Nam nhưng đã được đăng ký thường trú thì Sổ hộ khẩu gia đình có thể thay cho Thẻ thường trú không?
[12] Điều kiện để người nước ngoài/người không quốc tịch được cấp Thẻ thường trú tại Việt Nam theo quy định của Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam: phải có chỗ ở hợp pháp và có thu nhập ổn định bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam (khoản 1 Điều 40).
[13] Báo cáo của Bộ Ngoại giao.
[14] 03 thủ tục: (1) Thủ tục đăng ký để được xác định quốc tịch Việt Nam và cấp hộ chiếu Việt Nam theo Nghị định số 97/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 78/2009/NĐ-CP; (2) Thủ tục cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam theo Thông tư liên tịch số 05/2013/TTLT/BTP-BNG-BCA ngày 01/3/2013 hướng dẫn thi hành Nghị định số 78/2009/NĐ-CP; (3) Thủ tục cấp Hộ chiếu Việt Nam lần đầu ở nước ngoài theo Thông tư liên tịch số 08/2009/TTLT-BCA-BNG ngày 06/10/2009 của Bộ Công an, Bộ Ngoại giao hướng dẫn việc cấp hộ chiếu phổ thông và giấy thông hành ở nước ngoài theo Nghị định số 136/2007/NĐ-CP ngày 17/8/2007của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư liên tịch số 08/2013/TTLT/BCA-BNG ngày 20/8/2013.

Hoàng Lan


Các tin đã đưa ngày:
                                  
                                                                                                                                                                                                                                                                                                                      
  • Lượt truy cập: